ostarine

Tác giả

Chuyên mục

Trang

Nhà báo và nhà kiểm duyệt (2)

Tháng 11 16, 2014

Phạm Thị Hoài
 
Bài liên quan:
Cuốn sách về một điệp viên không hoàn hảo
Những chỗ bị kiểm duyệt sửa đổi và cắt bỏ trong bản dịch cuốn “Điệp viên Z21. Kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” của Thomas A. Bass
Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (1)
Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (2)
Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (3)
Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (4)
Bản dịch trọn vẹn: Thomas A. Bass – Điệp viên yêu chúng ta. Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn
Trao đổi lại với ông Thomas A. Bass về phần biên tập ban đầu cuốn sách của ông mà tôi tham gia 
Thomas A. Bass – Phản hồi độc giả nhân lần xuất bản tại Berlin 
Nhà báo và nhà kiểm duyệt (1)
 
 
Sự khó chịu trong sự thật

Câu hỏi đầu tiên nên trả lời trong vụ “Rừng Sát” là: bài phóng sự của Thomas A. Bass về kiểm duyệt tại Việt Nam có trình bày đúng thực trạng đó không? Theo tôi, đúng. Và hay. Chân dung truyền thần sinh động của ông về bộ mặt kiểm duyệt ở Việt Nam thật đến mức khó chịu. Nó bao quát hiện tượng kiểm duyệt, khắc họa bản chất của kiểm duyệt, phác họa cấu trúc và các hình thái của kiểm duyệt, tìm hiểu bối cảnh của kiểm duyệt và miêu tả chi tiết kiểm duyệt diễn ra như thế nào. Nó là một áng văn hấp dẫn, một tư liệu giá trị. Nếu tôi không quá nhầm thì công luận phải mong muốn nó được phổ biến. Song điều phiền toái nằm ngay trong giá trị của bài phóng sự.

Tác giả, như thông lệ của phóng viên điều tra phương Tây, đã không dùng nút bấm điều khiển từ xa, không tổng hợp và lọc tin từ bàn phím, không nghe qua tai, nhìn qua mắt và phát ngôn qua miệng người khác, mà tuân thủ đạo đức hay điều răn hàng đầu của nghề báo: ông không bịa ra một bài phóng sự mà tiếp cận người thật, việc thật, và lấy trường hợp thật của chính mình làm chất liệu.

Chuẩn mực đầu tiên này của sự thật có vẻ lạ lùng với báo chí Việt Nam. Để lấy một ví dụ: khi “em bé đuốc sống” Lê Văn Tám đã được người trong cuộc, một nhân chứng, một giáo sư sử học đầy uy tín chính thống, tiết lộ là nhân vật hư cấu để tuyên truyền thì nhà báo Trần Trọng Tân, người từng đứng đầu ngành văn hóa tư tưởng của đất nước, vẫn khẳng định em bé này là có thật, vì một số sách báo sau này đã thuật lại sự kiện này. Tôi không biết có ai sẵn sàng trả tiền mua tin của Thông tấn xã Việt Nam hay không, song sở dĩ các hãng tin nước ngoài như Reuters, AP, AFP, UPI, DPA…, hầu hết của phương Tây, bán được loại hàng đặc biệt này vì bên cạnh những ưu thế khác, trước hết là giá trị xác thực của món hàng được đảm bảo: người thật, việc thật, phóng viên thật. Bán một chiếc túi nhái Louis Vuitton rất dễ; cả giá trị sử dụng lẫn giá trị thẩm mĩ của nó có khi còn cao hơn của hàng xịn, vấn đề chỉ còn là nguồn gốc toát ra từ chính người dùng; nhưng bán tin fake Reuters thì không thể, giá trị sử dụng của nó là zero. Trong hai tác phẩm đáng chú ý nhất hai năm vừa qua, Bên thắng cuộc của Huy Đức và Đèn cù của Trần Đĩnh, chúng ta có thể tìm được vô số ví dụ về việc toàn bộ guồng máy tuyên truyền của Việt Nam đã hư cấu, bịa đặt, giả mạo, bóp méo, lũng đoạn, dụng ý gây nhiễu, định hướng, kiểm soát và kiểm duyệt thông tin một cách toàn diện và hệ thống như thế nào. Bài báo, “phát pháo mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất” về vụ đấu bà Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long, do chính ông Trần Đĩnh viết, “ký một cái tên ú ớ không còn nhớ và sau đó cũng không mó đến nó bao giờ”, như ông cho biết. Song bản thân ông không dự đấu tố. Để xào ra một “tường thuật”, ông “khai thác” người cấp dưỡng của ông Trường Chinh, theo sự “pha phách thêm nếm” của đồng chí phóng viên đầu bếp này, để rồi “phối hợp” với nó, chúng ta có bài “Địa chủ ác ghê” của một CB nổi tiếng. Ít nhất thì ông Hồ đã “bịt râu đến dự một buổi”, nhưng chắc chắn không phải vì tuân thủ đạo đức báo chí.

Và để so sánh: báo chí Đức ồn lên một dạo vì một vụ tai tiếng. Bỉnh bút của tờ Süddeutsche Zeitung, ông Heribert Prantl, một trọng lượng lớn trong làng báo Đức, bị chỉ trích vì trong một bài chân dung về người đứng đầu Tòa Bảo hiến Liên bang, ông miêu tả cảnh thực khách của vị chánh án được phân công làm bếp, như thể ông đã trực tiếp chứng kiến, trong khi ông chỉ nghe kể lại chứ chưa bao giờ ngồi trong căn bếp ấy. Tờ báo phải đăng đính chính. Một nhà báo khác, ông René Pfister của tờ Spiegel, được trao một giải thưởng báo chí danh giá cho một bài viết về Thống đốc bang Bayern, trong đó có đoạn miêu tả sưu tập mô hình tàu hỏa trong tầng hầm nhà vị chính khách này. Ngay sau đó ông bị tước giải thưởng vì chỉ biết đến sưu tập đó qua nguồn khác, song lại quên nêu rõ, khiến độc giả tưởng ông đã đích thân đặt chân xuống tầng hầm này.

Nếu cũng áp dụng những chuẩn mực như vậy, báo chí Việt Nam còn lại gì? Cần nói ngay rằng báo chí độc lập, thiếu hẳn điều kiện – tài chính, nhân sự, bộ máy tổ chức – và quyền tự do tiếp cận các sự kiện, đành giới hạn mình trong chức năng bình luận; dễ hiểu rằng nhiều nhận định nghiêm túc xuất hiện ở “lề trái” lại vô giá trị, vì dựa trên các thông tin hư cấu hoặc đã xào nấu nát bét nguồn gốc trong những chiếc vạc đại táo của các đầu bếp quốc doanh. Đó là chưa kể vô vàn những diễn đàn nặc danh mà tọa độ chính trị còn đáng ngờ hơn cả các thông tin được những người ngồi trong bóng tối lôi ra từ tay áo.

Trở lại với ông nhà báo Mỹ. Ông có thể kể câu chuyện hoàn toàn thật của mình, do chính mình trải qua, đích thân tai nghe mắt thấy, bằng cách giấu tên các nhân vật thật trong đó không? Tôi cho là không. Vì sao? Vì chỉ giấu họ trong những cái tên hư cấu là vô nghĩa, không cần là người trong ngành xuất bản ở Việt Nam cũng dễ dàng xác định who is who trong trường hợp này. Thao tác giấu tên bắt buộc phải kéo theo một loạt các hư cấu khác: ông phải tưởng tượng ra một nhà xuất bản khác, cuốn sách bị kiểm duyệt của ông phải mang một cái tên khác và tất nhiên một nội dung khác, bản thân ông cũng cần xuất hiện với một bút danh khác, và toàn bộ câu chuyện nên xảy ra ở một xứ tưởng tượng, phi thời đại, tốt nhất là ở Macondo. Nó sẽ không còn là một phóng sự điều tra mà trở thành một roman à clef. Tác phẩm được coi là roman à clef nổi tiếng, tiểu thuyết Mephisto của Klaus Mann – con trai Thomas Mann – là một ví dụ tốt. Dù nhân vật chính mang một cái tên hoàn toàn khác và được đặt trong những tình tiết hư cấu, nhưng bối cảnh là nước Đức thời Quốc xã không thay đổi, nên người đọc vẫn dễ dàng nhận ra đó là diễn viên Gustaf Gründgens, anh rể cũ của tác giả, một nghệ sĩ có tài, nhiều tham vọng, leo đến đỉnh cao sự nghiệp sân khấu của mình nhờ thỏa hiệp với chính quyền Hitler. Song Thomas A. Bass không có ý định viết tiểu thuyết. Tác phẩm của ông là một phóng sự người thật việc thật, thể loại đặc biệt, được coi là đỉnh cao và niềm tự hào của báo chí phương Tây.

Để lấy tiếp một ví dụ – hiển nhiên không phải để so sánh sự kiện, một sự kiện nằm ngoài khả năng hình dung của chúng ta – mà để hiểu, khi được gắn với những nhân vật cụ thể, có thực và có thể kiểm chứng, thì sự thật bỗng hiện ra trong toàn bộ sự khó chịu của nó như thế nào: Trước khi Seymour  Hersh bám lấy viên trung úy William Calley Jr. để anh ta, chuếnh choáng sau một lượng bia kha khá, kể chuyện mình đã thực hiện lệnh search and destroy, tìm và diệt, tại làng Mỹ Lai ngày 16/3/1968, đúng tinh thần Big Count, càng nhiều xác địch càng vẻ vang, của Chiến dịch Phượng Hoàng ở cao điểm của Chiến tranh Việt Nam; trước khi nhà báo này cày tung nước Mỹ để tìm ra từng nhân chứng, với người thật, tên thật, những người lính trong quân đội Hoa Kỳ đã tham gia hoặc tận mắt chứng kiến vụ thảm sát ấy, với 504 xác người già, phụ nữ và trẻ em, thì công luận Hoa Kỳ không phải là không biết đến vai trò đáng ngờ của quân đội Hoa Kỳ trong những cái được gọi là “tổn thất ngoài dự kiến” trong Chiến tranh Việt Nam. Song khi cả nạn nhân và thủ phạm đều đứng khuất trong chốn no name thì sự thật còn chịu được theo một nghĩa nào đó. Phải đến khi phóng sự của Hersh xuất hiện, sau gần một năm ngược xuôi không nơi nào muốn công bố, cái sự thật ấy bỗng có những gương mặt thật, những chân dung thật, những cái tên thật, và mới thật sự trở thành khó chịu, sự khó chịu dẫn đến phong trào phản chiến, rồi góp phần đáng kể vào việc chấm dứt sự tham dự của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam.

Câu hỏi bên trên cũng có thể diễn đạt theo cách khác: Thomas A. Bass có cần, thậm chí có tránh nhiệm giấu tên các nhân vật thật trong câu chuyện thật của mình không? Một lần nữa, theo tôi là không. Song để thuyết phục nhiều người đã quen với “hoàn cảnh Việt Nam”, nơi vị nguyên thủ khai quốc dùng bút danh CB hay X.Y.Z để viết những bài báo agitprop kích động hoặc những mẩu chuyện đả kích bỗ bã, và đương kim Chủ tịch nước gọi đương kim Thủ tướng là “đồng chí X”, thì không dễ. Nhưng muốn thế nào, ít nhất từ hôm qua độc giả đã không còn là trẻ con, và hôm nay các nhân vật được đề cập còn chưa là những Lord Voldemort để tác giả “Rừng Sát” cần gọi nhà sử học kiêm đại biểu Quốc hội trong bài viết của mình là “ông Y” hay vị giám đốc công ti xuất bản Nhã Nam là “ông Z”. Họ là các nhân vật có tên tuổi đàng hoàng của giới chính trị, hàn lâm, truyền thông và xuất bản.

Ở phương Tây hiện tại, chẳng những ban lãnh đạo mà nhân viên của các nhà xuất bản, phóng viên các hãng truyền thông và báo chí, giới hàn lâm trong các trường đại học và viện nghiên cứu, những người làm việc trong các hãng quảng cáo và tổ chức sự kiện xã hội, trong các thư viện và bảo tàng…, đều công khai danh tính, thậm chí kèm cả ảnh và địa chỉ email cho bất kì ai muốn liên lạc. Công luận có quyền biết những nhân vật đang hàng ngày đào tạo, rèn rũa, tác động đến ý thức và dư luận xã hội là ai. Không phải chỉ chính khách và It Girl mà nhóm nói trên cũng được coi là những nhân vật ít nhiều đứng trong công luận, những public figure từ khía cạnh đặc thù của công việc họ làm. Phần lớn trong số họ đều có trang cá nhân chính thức, với đầy đủ tiểu sử, bước đường sự nghiệp, thành tích, tác phẩm, và thường kèm kết nối công khai trên các mạng xã hội.

Ở Việt Nam, nơi các nhà lãnh đạo đất nước được công khai đại diện bằng một hệ thống đồ sộ các trang mạng nặc danh vui vẻ truyền bá cuốn Mein Kampf như một “tác phẩm hấp dẫn” với những hình ảnh máu lửa giật gân, tên tuổi tự chúng đã sống những số phận khác hẳn. Công ti xuất bản Nhã Nam có một website, nhưng ở đó tuyệt đối không có một cái tên nào của những người nào chịu trách nhiệm. (Ở Đức chẳng hạn, luật pháp bắt buộc các doanh nghiệp – dĩ nhiên một công ti xuất bản là một doanh nghiệp – không những công khai tên các nhân sự chịu trách nhiệm, mà hàng loạt thông tin khác, kể cả mã số thuế doanh thu và mã số doanh nghiệp trên trang nhà.)  Còn Nhà xuất bản Hồng Đức, cũng được nhắc tới trong vụ “Rừng Sát”, thì tồn tại kín đáo ngoài thời đại internet. Song không riêng gì họ. 99 % những cái tên kí dưới hàng chục ngàn bài báo và bản tin hàng ngày đăng trên hàng trăm tờ báo ở Việt Nam thực ra là thừa. Chúng vô nghĩa, vì không khác gì vô danh khi không công khai gắn với một con người thật, tên tuổi thật.

Chúng ta đã trải qua một chặng đường dài. Cột cây số đầu tiên cắm bảng “Đừng nghĩ”. Đi hết ba thế hệ mới gặp bảng “Nghĩ thì nghĩ, miễn đừng nói”. Đến đây tốc độ có vẻ cao hơn, chỉ một thế hệ sau đã đến cây số “Nói thì nói, miễn đừng nêu tên” và đi thêm một chút thì gặp tấm bảng khổng lồ “Đừng hành động”. Song một người Việt điển hình hôm nay vẫn là một người Việt dùng vô số nickname và ngại nêu danh tính thật. Bạn cứ thử gọi điện đến một tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội… Ở phương Tây, lời đầu tiên mà người bên kia đường dây nói ra là tên mình, như điều đương nhiên nhất trần đời. Ở Việt Nam, đó là điều cuối cùng mà người ta muốn tiết lộ, như bí mật lớn nhất nhân gian. Dĩ nhiên nỗi e ngại này có nguồn gốc bất hạnh của nó, song nó cũng rất tiện dụng để làm cái cớ, biện minh cho tình trạng vô danh của trách nhiệm. No name là môi trường giết chết những thương hiệu khả tín, nhưng là chốn an toàn cho những tầm vóc thấp chốt ở vị trí cao. No name, như đã nói ở trên, là nơi sự thật còn chịu được theo một nghĩa nào đó.

Ông nhà báo Mỹ vác cái bản thảo bị bằm vặp của mình, nhằm thẳng quả bom kiểm duyệt xông tới, sau khi mon men ở vòng ngoài. Chui hẳn vào bụng nó chắc ông cũng dám lắm, nhà báo nước ngoài không có gì để mất ngoài cái story của họ, nhưng vòng sâu nhất mà ông có thể tiếp cận là chỗ đứng của những người gác bom, những người vạch cho ông bằng bút đỏ, đâu là ranh giới cuối cùng. Trong cái story của ông, họ là những nhân vật chính mà tên tuổi thật, như dấu chấm tất yếu trên chữ i, khiến câu chuyện ấy không thể thật hơn. Song sự kinh ngạc từ phía độc giả Việt Nam cho thấy, cú sốc văn hóa Việt-Mỹ đã hoàn hảo. Như cái tên Tố Hữu trong cuốn sách của ông bị các nhà kiểm duyệt viết tắt – một cách lố bịch và vô nghĩa – thành T.H, có lẽ ông phải tự kiểm duyệt tên các nhân vật trong bài phóng sự của mình? Ông sẽ có khá nhiều lựa chọn: CB, T.H, X, hoặc XYZ. Muốn kể một câu chuyện về kiểm duyệt, trước hết bạn hãy tự kiểm duyệt. Chào mừng bạn đến với đất nước của hài hước, chúng tôi đơn giản là Việt Nam!

Vâng, đó là cố hương của tôi, một nhà văn viết tiếng Việt, lần cuối cùng được xuất bản trong nước là 19 năm trước, 1995, một tập truyện ngắn bị đình chỉ ngay sau khi phát hành. Tám năm sau, lần cuối cùng tôi được về thăm nhà, ông Trịnh Đình Khôi, chuyên viên cao cấp phụ trách mảng văn hóa văn nghệ thuộc Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, nay là Ban Tuyên giáo Trung ương, khẳng định với tôi rằng ông không liên quan đến cái lệnh cấm đó, thậm chí ông đã bênh vực cuốn sách của tôi trong cuộc họp phê bình nhà xuất bản. Ai cấm, ông không biết. Nhưng ông không biết, thì ai biết? Cái đó thì phải hỏi bên Bộ, ông nói. Tức bên chính phủ. Cấu trúc hai nhà nước trong một nhà nước của Việt Nam, bên này Ban, bên kia Bộ, quả là một sáng kiến vĩ đại. Chúng ta đều trở thành những con lắc, chóng mặt giữa hai bờ quyền lực, và một giây nào đó chợt bừng tỉnh để ngay sau đó lại trở về quán tính chao đảo thì gần ba phần tư thế kỉ đã trôi qua.

Ngồi trong căn phòng tuềnh toàng của Ban ở một biệt thự Pháp chỉ còn cái xác nhưng vẫn giữ vẻ khang trang đường bệ so với các kiến trúc của người Việt, cách Lăng Hồ Chủ tịch không đầy một cây số, với bộ bàn ghế rẻ tiền, bộ ấm chén cáu bẩn cùng chiếc bô nhựa màu đỏ đầy ắp bã trà, một trong những vật dụng ám ảnh tôi nhất trong mọi phòng tiếp khách của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương thuở đó, tôi hoàn toàn tin rằng ông chuyên viên tư tưởng thành thật. Cũng thành thật như thế, ở một tầm khác, là người đứng đầu ngành tư tưởng văn hóa của đất nước, ông Trưởng Ban, Ủy viên Bộ Chính trị, một nhà thơ, người đã phá mọi kỉ lục cấm sách của các bậc tiền nhiệm, song với một điểm son là sách tuy bị đình chỉ nhưng tác giả bình an. Song cả ông Nguyễn Khoa Điềm dường như cũng không liên quan gì đến cuốn sách bị cấm của tôi. Nhận chén trà từ tay người phục vụ – hay phải gọi là người thư kí? – mang tới, tôi không thấy chiếc bô nhựa màu đỏ trong phòng tiếp khách bề thế hơn nhiều của ông, ghế bọc giả da, nhưng hơi thở của quyền lực ở đây không ồn ào, chỉ lạnh lẽo. Ông nhắc đến những bài thơ thuở nào của tôi mà chính tôi không còn nhớ, mấy trăm bài thơ đầu tay tôi đã đốt sạch để không bao giờ còn bị môn thể thao đá cầu chữ nghĩa trong nghệ thuật này ở Việt Nam cám dỗ. Chúng tôi trò chuyện về talawas, trang mạng do tôi phụ trách lúc đó. Ông gọi nó là một cửa sổ nhìn ra thế giới và quan tâm tới giải thưởng văn chương mang tên Bùi Giáng mà tôi từng đề nghị. Song sự thân ái giữa người cầm bút và người cầm bút đó không ngăn cản việc sáu tháng sau, talawas bị chặn, các biên tập viên ở Việt Nam lần lượt bị công an triệu tập. Cha mẹ tôi, gần đất xa trời, cũng phải lập cập lên “làm việc” với an ninh. “Nhờ hai cụ nhắn với chị Hoài, chắc chị ấy cũng muốn về thăm gia đình chứ”, Stasi Việt Nam ngọt ngào tiễn cha mẹ tôi ra về.

Khi tôi ra khỏi dinh thự của Văn phòng Trung ương Đảng do người Pháp để lại, trời đã tối, nhưng vẫn còn những cán bộ cởi trần mặc quần đùi vờn bóng bàn ở sân. Bây giờ, mười một năm sau, chắc họ chơi golf. Bàn ghế chắc đã thay bằng cái gì khảm trai, cái gì gỗ gụ, như cái thẩm mĩ búa liềm rồng phượng của đất nước này đòi hỏi. Nhưng chiếc bô nhựa đỏ, tôi tin là nó bất diệt. Nó vẫn còn. Còn nguyên như khu rừng nhiệt đới của kiểm duyệt. Lạc trong đó, bạn sẽ đầy lòng cảm ơn người kiểm lâm đã cứu bạn khỏi bị hùm xé xác, bằng cách vạch cho bạn một đường thoát qua khu đầm lầy. Lún đến đâu, tùy vào bạn. Tôi ngoái lại nhìn một lần nữa cái trụ sở của quyền lực ấy và nhẹ người, tôi sẽ không phải gieo một con xúc xắc nào trong ván mạt chược lớn, cuộc chơi của các nạn nhân, ân nhân, thủ phạm và đồng phạm đó nữa. Lời của chàng thanh niên 25 tuổi Karl Marx viết năm 1843 cho người cộng sự Arnold Ruge khi quyết định rời khỏi nước Đức, bắt đầu cuộc đời lưu vong tròn 40 năm của mình, vẳng lên trong tôi như một bằng chứng nữa, rằng lịch sử dành cho mọi người Việt – trong đó có tôi, người đang sống, đến nay vừa tròn 20 năm, ở Đức – một quy chế hài hước đặc cách. Ông viết: “Tôi đã mệt mỏi vì sự thớ lợ, ngu xuẩn, vì công quyền thô thiển, vì thói bợ đỡ, luồn cúi, quay lưng của chúng ta và vì tệ chẻ chữ.” Lí do cho sự mệt mỏi đó là chế độ kiểm duyệt tại Đức mà nạn nhân là tờ Rheinische Zeitung do Marx chủ biên, với loạt bài nổi tiếng của ông bàn về tự do báo chí và xuất bản.

(Còn tiếp)

© 2014 pro&contra

Share SHARE