Tác giả

Danh mục

Trang

Đom đóm trong rừng nhiệt đới

Th1 29, 2026

Phạm Thị Hoài

The difference between the almost right word and the right word is really a large matter – it’s the difference between the lightning bug and the lightning.”

Mark Twain

Tiếng Việt, như phần lớn người Việt chính hiệu, nhìn chung là bừa bộn. Ngay cả khi không có gì nhiều để thu dọn vẫn luộm thuộm, như thể phải lung tung rối rắm mới phong phú. Nó chỉ tuân thủ một nguyên tắc: miễn hiểu được là được. Thực ra là một nguyên tắc không tồi. Rất cốt yếu, thực tiễn, tiết kiệm nguồn lực, và dành cho những người sống bằng nghề sử dụng nó như tôi một lợi thế khá bền vững trước sự càn quét tàn bạo của trí tuệ nhân tạo, một bộ não khổng lồ vơ vồ mọi kiến thức, vẽ vời cả nhận thức mà không cần ý thức, không cần hiểu gì nhưng cần một trật tự.

Tiếng Việt dĩ nhiên có một trật tự nào đó mà các chuyên gia ngôn ngữ đủ trường phái và vô số thế hệ cho đến nay đã gắng sức miêu tả. Cứ theo những quy tắc được họ đúc kết thì bạn sẽ chế ra được một thứ tiếng Việt hoặc nhợt nhạt như cớm nắng, thẳng đuỗn như vừa nhập quan, hoặc phức tạp tới mức chẳng ai còn dám đặt một câu giản dị như “Tôi dạo này con cái đi hết” hay “Mày thợ non phụ cứng nước nôi gì“. Những nỗ lực chuẩn hóa cái trật tự vô tổ chức, thậm chí vô chính phủ đó khiến tiếng Việt ở trường học, trong nghiên cứu xã hội nhân văn, trên truyền thông, trong khu vực hành chính công và đặc biệt trong dịch thuật bắt đầu nghe kẻng xếp hàng, đơ như diễn xuất trong phim Việt và sẵn sàng gia nhập gia đình ngôn ngữ thanh trùng toàn cầu: sạch sẽ, an toàn, vô hồn, không làm phiền máy dịch.

Song hết kẻng là đâu lại vào đấy, tiếng Việt trở về nguyên hình. Như rừng nhiệt đới, không đầu mối, không lề lối, ngổn ngang. Thích vào hàng thì vào hàng, thích chen ngang thì chen ngang, thích hiện thì hiện, thích biến thì biến thẳng. Muốn mọc chỗ nào thì mọc, xuôi cũng được, ngược cũng xong. Chữ thì như giò lan, tìm được chỗ đắc địa là treo. Chữ thì làm dây leo, bất chấp luật rừng nào phản đối. Chữ thì nương thân chỗ tối. Chữ thì tua tủa đua ánh mặt trời. Tất cả như chỉ tuân theo bản năng sinh tồn tự động. Câu lại càng lộn xộn, cong queo, thẳng đuỗn, dài dằng dặc, cụt lủn, đều chẳng ra một nề nếp tối thiểu. Ngữ pháp chủ yếu để dọa. Phong ba bão táp gì đó. Chính tả để thách đố. Người Việt vấp tiếng Việt thường xuyên ngã; khách lạ chỉ làm cảnh, quanh quẩn nơi vạt rừng đã phát quang; các chúa sơn lâm chỉ gầm khẩu hiệu giữ gìn sự trong sáng thiêng liêng của thực thể hỗn độn ấy.

Đó là chưa kể những khác biệt đầy trầm tích lịch sử và ẩn ức chính trị giữa các vùng miền, tiếng Bắc tiếng Nam kẹp thêm các phiên bản miền Trung ở giữa. Tôi từng ngỡ phở Sài Gòn ngọt do thiếu muối vì nghe người Nam nấu nướng “bỏ muối“. Họ cũng viết tiếng Việt “bỏ dấu“. Song không phải vì bỏ rơi ít nhất một thanh điệu trên đường Nam tiến, khiến dấu ngã quên mình hi sinh cho dấu hỏi hoặc ngược lại, mà bỏ dấu của miền Nam chính là thêm dấu, tức có dấu, tức không bỏ dấu của miền Bắc, trong khi “chết bỏ” của Đàng Trong – đánh lộn chết bỏ, ăn chết bỏ, chơi chết bỏ, làm chết bỏ, yêu chết bỏ – có thể tương đương về nghĩa nhưng “đã” hơn hẳn về cảm xúc so với với “chết thôi” của Đàng Ngoài. Chết thôi, chết bỏ, hay chết không bỏ đều chẳng chết ai cả.

Đó là chưa kể tiếng Việt hải ngoại. Mỗi thế hệ Việt kiều đem mảnh rừng ngôn ngữ của riêng mình đi trồng ngoài bờ cõi, vừa thờ phụng như bàn thờ Tổ quốc, vừa tất yếu sao nhãng trong cuộc mưu sinh nơi tha hương. Người Việt thuyền nhân ở (Tây) Đức chăm sóc một tiếng Việt khác người Việt di dân mới, đi “đóng bát“, tức đi đóng dấu cấp phép cư trú vào passport, ở (Đông) Đức. Khí hậu Paris, thổ nhưỡng Bolsa, thủy văn Úc, địa hình Berlin, các lớp cắt của chiến tranh, lịch sử, chính trị và thời cuộc…, khiến tiếng Việt hải ngoại ít nhiều như một bảo tàng di vật, lật đật giữa những tham vọng và mặc cảm đặc trưng của văn hóa ngoại vi, song trong cái khó cũng ló ra những cơ hội bất ngờ qua giao thoa với các ngôn ngữ khác.

Đó là chưa kể vòng ôm ngạt thở của một ngôn ngữ bá đạo hùng mạnh, tiếng Tàu. Muốn yêu ghét thế nào, người Việt không thể gột di sản đồ sộ của tiếng Hán trong quá khứ và ảnh hưởng sau đó của tiếng Trung, cũng như Truyện Kiều thiên tài là đứa con lai tuyệt đẹp, hình hài và hồn cốt Việt, lớn lên bằng bầu sữa Việt, thụ hưởng sinh khí Việt, mang trọn số phận Việt. Đối lưu ngôn ngữ – một phần đáng kể có thể là đối lưu cưỡng bức – từ cuộc phối ngẫu màu mỡ ấy đặt tiếng Việt vào một hệ sinh thái hết sức phức tạp, đa dạng, đa nghĩa, đa tầng. Thậm chí đa chiều trong cú pháp, điều hiếm khi xảy ra trong cùng một ngôn ngữ. Trước thống nhất, miền Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng hòa, nghiễm nhiên theo chiều “ngược” của tiếng Tàu. Rồi điềm nhiên chuyển “xuôi” thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chứ không Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa Cộng hòa. Xuôi cũng được, ngược cũng xong. Miễn là hiểu.      

So với khu rừng nhiệt đới ấy, tiếng Đức, ngôn ngữ thứ hai mà tôi ít nhiều làm chủ, là một khuôn viên dường như ngăn nắp đến từng cọng cỏ. Mark Twain từng khuyên nên kính cẩn xếp tiếng Đức vào nhóm tử ngữ vì chỉ người đã chết mới đủ thời gian học hết các quy tắc và ngoại lệ của nó. Nếu có vinh dự làm quen với tiếng Việt, chắc ông phải ghi nhận rằng chỉ một dân tộc bất tử mới đủ vô lo để không cho ngôn ngữ của mình một quy tắc hay ngoại lệ bất biến. Miễn là hiểu.

Hiểu kiểu Việt ở cấp độ được ngưỡng mộ nhất trước hết là hiểu ngầm Là ngôn ngữ chúa tể của nghệ thuật nói một hiểu mười, tiếng Việt mặc định một xác suất hiểu ngầm và hiểu nhầm 90%. Trong đời viết tiếng Việt, tôi cũng mặc định cho mình một xác suất 9% từ ngữ chữ nghĩa câu cú văn vẻ chọn đúng, 1% chọn đích đáng, như những tia chớp; 90% còn lại may ra là đom đóm trong rừng nhiệt đới mà thôi.

(Bài đã đăng trên báo Trẻ số Xuân, tháng 1.2026)

Categories: Ngôn ngữ