5kits

Tác giả

Chuyên mục

Trang

Địa chính trị đang trở lại vị trí trung tâm: Sự trả thù của các cường quốc xét lại

Th5 11, 2014

Walter Russell Mead

Trần Ngọc Cư dịch

Cho đến thời điểm này, năm 2014 đã là một năm nhiều biến động, khi các cuộc tranh giành địa chính trị ồ ạt chiếm lại sân khấu trung tâm. Dù đó là các lực lượng vũ trang Nga đang chiếm giữ Krym, hay Trung Quốc đang đưa ra các yêu sách chủ quyền quyết đoán tại các vùng biển ven bờ, hay Nhật Bản đang đáp trả bằng một chiến lược ngày càng quyết đoán của chính mình, hay đó là Iran đang ra sức sử dụng các liên minh với Syria và Hezbollah để khống chế Trung Đông, thì các cách vận dụng quyền lực kiểu cũ cũng đang trở lại trong các quan hệ quốc tế.

Hoa Kỳ và Liên Âu, ít ra, cũng nhận thấy các xu thế này là đáng lo ngại. Cả hai đều muốn vượt qua những vấn đề địa chính trị gắn liền với lãnh thổ và sức mạnh quân sự và thay vào đó tập trung vào các vấn đề thuộc về trật tự thế giới và quản trị toàn cầu: tự do hóa mậu dịch, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, nhân quyền, chế độ pháp trị, thay đổi khí hậu, vân vân. Thật vậy, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, mục tiêu quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Tây Âu là chuyển các quan hệ quốc tế từ các vấn đề có bên thắng bên thua [zero-sum issues] sang các vấn đề hai bên đều có lợi [win-win issues]. Bị lôi cuốn vào trong những cuộc đọ sức theo trường phái cũ như cuộc tranh chấp tại Ukraine không những lấy mất thì giờ và năng lực từ những vấn đề quan trọng nói trên; nó còn thay đổi bản chất của chính trị quốc tế. Khi môi trường quốc tế trở nên đen tối, công cuộc phát triển và duy trì trật tự thế giới ngày càng gặp nhiều đe dọa hơn.

Nhưng lẽ ra người phương Tây đừng bao giờ kỳ vọng rằng địa chính trị kiểu cũ cuối cùng sẽ biến mất. Sở dĩ họ tưởng như vậy chỉ vì trên cơ bản họ đã hiểu sai ý nghĩa về sự sụp đổ của Liên Xô: đây chỉ là một cuộc chiến thắng ý thức hệ của thể chế dân chủ tư bản tự do đối với chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là sự lỗi thời của quyền lực cứng [hard power]. Trung Quốc, Iran, và Nga không bao giờ chấp nhận sự dàn xếp địa chính trị tiếp theo sau Chiến tranh Lạnh, và những nước này đang toan tính các nỗ lực ngày càng táo bạo hơn để đảo ngược tình hình. Tiến trình này sẽ không theo đường lối hòa bình, và dù các cường quốc xét lại này có thành công hay không, thì những nỗ lực của chúng cũng đã làm lung lay quân bình lực lượng và thay đổi các tương tác chính trị quốc tế.

MỘT Ý THỨC SAI LẦM VỀ AN NINH

Khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhiều người Mỹ và người châu Âu dường như đã nghĩ rằng những vấn đề địa chính trị phiền phức nhất phần lớn đã được giải quyết xong. Ngoại trừ một số vấn đề tương đối nhỏ, như những rắc rối tại Nam Tư cũ và cuộc tranh chấp giữa Israel và Palestine, họ đinh ninh rằng những vấn đề lớn nhất trong chính trị thế giới sẽ không còn liên quan đến các biên giới quốc gia, các căn cứ quân sự, vấn đề dân tộc tự quyết, hay các vùng ảnh hưởng.

Không ai có thể trách cứ con người vì nuôi hi vọng. Đường lối tiếp cận của phương Tây đối với tình hình thực tế của thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh đã mang nhiền ý nghĩa, và thật khó tưởng tượng ra hòa bình thế giới có thể trở thành hiện thực mà không cần thay thế sự tranh giành địa chính trị [geopolitical competition] bằng việc xây dựng một trật tự thế giới tự do. Tuy nhiên, người phương Tây thường quên rằng dự án này đặt cơ sở trên các nền móng địa chính trị đặc thù vừa được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 1990 mà thôi.

Tại châu Âu, cuộc dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh đưa đến việc thống nhất nước Đức, chia năm xẻ bảy Liên Xô, và kết nạp các quốc gia thuộc khối Warzsawa cũ và các nước cộng hòa Baltic vào NATO và Liên Âu. Tại Trung Đông, nó dẫn đến sự thắng thế của các nước Hồi giáo Sunni đồng minh với Hoa Kỳ (Ả-rập Saudi, các đồng minh Vùng Vịnh, Ai Cập, và Thổ Nhĩ Kỳ), và một chính sách bao vây ngăn chặn kép [double containment] nhắm vào hai nước Iran và Iraq. Tại châu Á, nó đồng nghĩa với ưu thế không bị ai thách thức của Hoa Kỳ, được củng cố bằng một loạt quan hệ an ninh với Nhật Bản, Nam Hàn, Australia, Indonesia, và các đồng minh khác.

Sự dàn xếp này phản ánh thực tế quyền lực lúc bấy giờ, và nó chỉ được vững vàng như các mối quan hệ đang chống đỡ nó mà thôi. Đáng tiếc là, nhiều nhà quan sát đã đồng hóa tình hình địa chính trị tạm thời của thế giới sau Chiến tranh Lạnh với kết quả được coi như là chung cục của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa thể chế dân chủ tự do và chế độ cộng sản Xô-viết. Tuyên bố nổi tiếng của nhà nghiên cứu chính trị Francis Fukuyama, rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh có nghĩa là “cáo chung của lịch sử”, chỉ là một phát biểu về ý thức hệ. Nhưng đối với nhiều người, sự sụp đổ của Liên Xô không những có nghĩa là cuộc đấu tranh ý thức hệ của nhân loại đã chấm dứt vĩnh viễn; họ còn nghĩ rằng bản thân địa chính trị cũng đến hồi chấm dứt vĩnh viễn.

Thoạt nhìn, kết luận này có vẻ là một suy diễn từ lý luận của Fukuyama chứ không phải là một sự bóp méo. Dẫu sao, ý kiến về sự cáo chung của lịch sử đã dựa vào những hậu quả mang tính địa chính trị của những cuộc đấu tranh ý thức hệ kể từ khi triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel lần đầu tiên phát biểu nó vào đầu thế kỷ 19. Đối với Hegel, chính trận Jena, năm 1806, đã hạ màn cuộc chiến giữa các tư tưởng. Theo quan điểm của Hegel, việc Napoleon Bonaparte tiêu diệt toàn bộ quân Phổ trong chiến dịch ngắn ngủi nói trên là chiến thắng của Cách mạng Pháp đối với đội quân tinh nhuệ nhất mà châu Âu tiền-Cách mạng có thể tạo ra. Điều này đã đưa đến một cáo chung cho lịch sử, Hegel lý luận, bởi vì trong tương lai, chỉ có những quốc gia chấp nhận những nguyên tắc và kỹ thuật của nước Pháp cách mạng mới có thể cạnh tranh và tồn tại.

Áp dụng vào thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, lý luận của Hegel được suy diễn là, trong tương lai, các quốc gia sẽ phải chấp nhận những nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản tự do mới theo kịp thời đại. Những xã hội cộng sản khép kín như Liên Xô đã tỏ ra thiếu sáng tạo và kém năng suất, không thể cạnh tranh về kinh tế và quân sự với các quốc gia tự do. Chế độ chính trị của chúng cũng rất khập khễnh, vì không một hình thức xã hội nào khác ngoài thể chế dân chủ tự do mới có thể cung ứng đủ tự do và nhân phẩm cho một xã hội đương thời giữ được ổn định.

Để chống lại phương Tây hữu hiệu, các nước sẽ phải bắt chước phương Tây, và nếu việc này diễn ra, chúng sẽ trở thành một dạng thức xã hội mờ nhạt, chủ hòa, nhu nhược không còn muốn chiến đấu vì bất cứ lý do gì. Mối nguy duy nhất còn sót lại đối với hòa bình thế giới sẽ phát xuất từ các quốc gia côn đồ như Bắc Triều Tiên, và dù những nước này có đủ ý chí để thách thức phương Tây đi nữa, chúng cũng sẽ bị cơ cấu xã hội và chính trị lỗi thời của mình làm cho trở nên què quặt, không thể vượt lên trên mức độ chỉ gây khó chịu cho các nước khác (trừ phi chúng phát triển được vũ khí nguyên tử, hẳn nhiên). Và vì thế, các quốc gia cộng sản cũ, như Nga chẳng hạn, đã đối diện với một lựa chọn. Hoặc là tham gia phong trào hiện đại hóa và trở thành những quốc gia tự do, cởi mở, và chủ hòa, hoặc là cứ bám lấy vũ khí và văn hóa của mình trong khi bị thế giới qua mặt.

Lúc đầu, mọi việc có vẻ diễn ra như thế. Với lịch sử [của cuộc chiến ý thức hệ] chấm dứt, sự tập trung được chuyển từ địa chính trị sang các lãnh vực kinh tế phát triển và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, đồng thời phần lớn chính sách đối ngoại chuyển trọng tâm sang các vấn đề như thay đổi khí hậu và thương mại. Kết hợp sự chấm dứt của địa chính trị với sự cáo chung của lịch sử đã đưa ra một viễn ảnh đặc biệt hấp dẫn đối với Hoa Kỳ: đó là ý tưởng cho rằng Mỹ có thể bắt đầu giảm bớt việc đóng góp vào hệ thống quốc tế mà vẫn thu hoạch nhiều lợi lộc hơn. Mỹ có thể giảm chi tiêu quốc phòng, cắt bớt các ngân khoản của Bộ Ngoại giao, giảm bớt sự hiện diện của mình tại những điểm nóng ở nước ngoài – và thế giới chỉ việc tiếp tục phồn thịnh và tự do hơn.

Viễn kiến này đã từng thu hút cả phe phóng khoáng lẫn phe bảo thủ tại Hoa Kỳ. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton, chẳng hạn, đã cắt giảm ngân sách của cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Ngoại giao và trong tơ tóc đã thuyết phục được Quốc hội tiếp tục đóng lệ phí cho LHQ. Đồng thời, những nhà làm chính sách Mỹ lúc đó đinh ninh rằng hệ thống quốc tế sẽ trở nên vững mạnh hơn và có ảnh hưởng sâu rộng hơn trong khi vẫn đưa đến các lợi ích của Hoa Kỳ. Những chính khách theo chủ nghĩa cô lập mới trong Đảng Cộng hòa (Republican neo-isolationists), như cựu dân biểu Ron Paul từ Bang Texas, đã tranh luận rằng trong tình hình không có những thách thức địa chính trị nghiêm trọng, Hoa Kỳ có thể nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và viện trợ trong khi vẫn tiếp tục hưởng lợi từ hệ thống kinh tế toàn cầu.

Sau Biến cố 9/11, Tổng thống George W. Bush đã đặt cơ sở chính sách đối ngoại trên xác tín là quân khủng bố Trung Đông đã trở thành một kẻ thù đặc biệt nguy hiểm, và Bush phát động điều mà ông cho là một cuộc chiến lâu dài chống lại chúng. Trên một số phương diện, thế giới lại quay về với phạm trù lịch sử đấu tranh. Nhưng tín lý của chính quyền Bush cho rằng thể chế dân chủ có thể dễ dàng được bứng sang  Trung Đông Ả Rập, bắt đầu bằng Iraq, là một bằng chứng về một sự tin tưởng sâu sắc rằng dòng thác biến cố toàn cầu đang diễn ra trong chiều hướng có lợi cho Mỹ.

Tổng thống Barack Obama đã xây dựng chính sách đối ngoại của mình trên xác tín cho rằng “chiến tranh chống khủng bố” đã bị thổi phồng quá đáng, rằng lịch sử [xung đột ý hệ] đã thực sự chấm dứt, và rằng, cũng như trong những năm Clinton cầm quyền, những ưu tiên quan trọng nhất đều liên quan tới việc củng cố trật tự thế giới tự do chứ không phải theo đuổi sách lược địa chính trị cổ điển. Chính quyền này đã minh định một nghị trình cực kỳ tham vọng nhằm yểm trợ trật tự đó: chặn đứng nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân của Iran, giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine, đàm phán một thỏa ước về vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước trên Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, ký kết các hiệp ước kiểm soát vũ khí với Nga, chấn chỉnh lại quan hệ ngoại giao của Mỹ với thế giới Hồi giáo, bênh vực quyền lợi của người đồng tính luyến ái, phục hồi niềm tin của các đồng minh châu Âu, và chấm dứt cuộc chiến tại Afghanistan. Nhưng, đồng thời Obama đã lên kế hoạch nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và giảm bớt sự hiện diện của Mỹ tại những địa bàn chủ yếu trên thế giới, như châu Âu và Trung Đông.

MỘT TRỤC SÂU MỌT?

Tất cả những tin tưởng tốt lành nói trên sắp bị thử thách. Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, dù người ta tập trung chú ý vào sự kèn cựa giữa Liên Âu và Nga về Ukraine, một biến cố đã đưa đến việc Nga chiếm lấy Krym; hay người ta tập trung chú ý vào cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng cường độ giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Á; hay vào cuộc xung đột giáo phái đang bị thu hút vào các tranh chấp quốc tế hay các nội chiến tại Trung Đông, thì người ta vẫn nhận ra rằng càng ngày thế giới càng có vẻ chưa chịu để lại lịch sử đấu tranh ở đằng sau. Trong những cung cách rất khác nhau, với những mục tiêu rất khác nhau, Trung Quốc, Iran, và Nga cùng nhau đẩy lùi giải pháp chính trị của Chiến tranh Lạnh.

Mối tương quan giữa ba cường quốc xét lại này là phức tạp. Trong trường kỳ, Nga lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thế giới quan của Tehran ít có điểm chung với thế giới quan của Bắc Kinh hay của Moskva. Iran và Nga là những nước xuất khẩu dầu và muốn giá dầu cao; Trung Quốc rốt cuộc vẫn là nước tiêu thụ dầu và muốn giá dầu thấp. Bất ổn chính trị tại Trung Đông có thể làm lợi cho Iranvà Nga nhưng lại đặt ra nhiều rủi ro to lớn cho Trung Quốc. Ta không nên nói đến một liên minh chiến lược giữa ba nước này, và qua thời gian, nếu chúng thành công trong việc phá hoại ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực Á Âu, căng thẳng giữa chúng có khả năng sẽ gia tăng chứ không giảm bớt.

Tuy nhiên, điều kết hợp những cường quốc này lại với nhau chính là sự nhất trí rằng nguyên trạng cần phải được xét lại. Nga muốn tái phục hồi Liên Xô được chừng nào hay chừng ấy. Trung Quốc không có ý định tự mãn với một vai trò thứ yếu trong các vấn đề toàn cầu, đồng thời cũng không chấp nhận mức độ ảnh hưởng hiện nay của Hoa Kỳ tại châu Á và nguyên trạng lãnh thổ [the territorial status quo] tại đó. Iran muốn thay thế trật tự hiện nay tại Trung Đông – một trật tự do Ả Rập Saudi lãnh đạo và bị các quốc gia Ả Rập Hồi giáo Sunni khống chế – bằng một trật tự lấy Tehran làm trung tâm.

Lãnh đạo của ba nước này còn nhất trí với nhau rằng quyền lực Mỹ là trở ngại chính cho việc họ thực hiện các mục tiêu xét lại [revisionist goals] của mình. Thái độ thù địch của họ đối với Washington và trật tự mà Mỹ đặt ra có tính vừa công vừa thủ: không những họ hi vọng rằng sự suy yếu của quyền lực Mỹ sẽ làm cho việc lập lại trật tự mới trong khu vực của họ dễ dàng hơn, mà còn lo ngại rằng Washington có thể ra sức lật đổ họ nếu bất bình của người dân trong nước họ gia tăng. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo xét lại này muốn tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, ngoại trừ trong một số trường hợp hiếm hoi khi tình hình hết sức thuận lợi cho họ (như trong vụ Nga xâm lăng Georgia năm 2008 và chiếm đóng rồi sáp nhập Krym năm nay). Thay vì đối đầu trực tiếp với nguyên trạng, họ tìm cách làm sứt mẻ dần dần các qui phạm và các mối quan hệ vốn đang duy trì nó.

Kể từ khi Obama trở thành tổng thống Mỹ, mỗi một trong ba cường quốc này đã theo đuổi một chiến lược riêng biệt tùy theo chỗ mạnh, yếu của mình. Nghịch lý là, Trung Quốc, quốc gia có nhiều tiềm năng to lớn nhất trong bộ ba, đã gặp nhiều trở ngại nhất. Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm quyết đoán chủ quyền của mình trong khu vực chỉ mang đến hậu quả là làm thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đồng minh châu Á và gia tăng cường độ của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản. Tiềm năng của Bắc Kinh càng lớn, thì ý thức về thất bại sẽ càng sâu sắc. Một sự gia tăng sức mạnh từ phía Trung Quốc sẽ gặp phải một sự gia tăng quyết tâm từ phía Nhật Bản, và các căng thẳng tại châu Á sẽ có khả năng lan tràn sang lãnh vực kinh tế và chính trị toàn cầu.

Iran, quốc gia yếu nhất trong bộ ba này căn cứ trên nhiều thước đo, lại đạt nhiều thành tích nhất. Một kết hợp của việc Mỹ xâm lăng Iraq và việc Mỹ sau đó rút quân ra quá sớm đã giúp Tehran hàn gắn các mối quan hệ sâu sắc và bền vững với các trung tâm quyền lực có ý nghĩa ở bên kia biên giới Iraq, một diễn biến đã làm thay đổi cán cân quyền lực giáo phái và chính trị ở trong khu vực. Tại Syria, Iran, với sự trợ giúp của Hezbolla, một đồng minh lâu đời, đã đủ sức đảo ngược tình hình quân sự và chống đỡ được chính phủ của Bashar al-Assad trước sự phản đối mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ. Sự chiến thắng của chính trị thực tế này đã gia tăng quyền lực và uy tín của Iran một cách đáng kể. Khắp Trung Đông, Mùa Xuân Ả Rập đã làm suy yếu các chế độ Hồi giáo Sunni, đẩy thêm cán cân quyền lực về phía có lợi choIran. Iran cũng hưởng lợi nhờ mối chia rẽ ngày càng tăng giữa các chính phủ Sunni về cách họ phải ứng xử với Tổ chức Huynh đệ Hồi giáo và các chi nhánh và thành viên của nó.

Trong khi đó, Nga xuất hiện như một cường quốc xét lại có thành tích trung bình: mạnh hơn Iran và yếu hơn Trung Quốc, thành công hơn Trung Quốc về địa chiến lược nhưng không thành công bằng Iran. Nga đã đạt một số kết quả vừa phải trong nỗ lực ly gián Đức với Hoa Kỳ, nhưng tham vọng của Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc phục hồi Liên Xô cũ đã trở nên khập khiễng do những giới hạn gay gắt của sức mạnh kinh tế nước ông. Để xây dựng một khối Á-Âu thực sự, như Putin mơ ước thực hiện, Nga sẽ phải cung cấp ngân sách cho các cộng hòa Xô-viết cũ – một điều Nga không đủ sức làm.

Tuy nhiên, bất chấp khả năng hạn chế của mình, Putin đã thành công xuất sắc trong việc làm thất bại các dự án của phương Tây trên lãnh thổ Xô-viết cũ. Ông đã chặn đứng NATO ngay trên con đường bành trướng của nó, đưa Armenia vào quĩ đạo của mình, nắm chặt Krym, và, với sự phiêu lưu của ông tại Ukraine, đã giáng một đòn bất ngờ khiến phương Tây cảm thấy bức xúc và nhục nhã. Từ quan điểm của phương Tây, Putin dường như đang đẩy đất nước mình vào một tương lai đen tối hơn bao giờ hết, để trở thành một quốc gia nghèo và đứng bên lề hệ thống quốc tế. Nhưng Putin không tin rằng lịch sử đã chấm dứt, và từ góc nhìn của ông, ông đã củng cố được quyền lực ở trong nước và đã nhắc nhở các cường quốc thù nghịch ở bên ngoài biết rằng con gấu Nga vẫn còn vuốt sắc.

CÁC THẾ LỰC HIỆN NAY

Những cường quốc xét lại này theo đuổi những nghị trình và có những tiềm năng khác biệt nhau đến nỗi không một nước nào trong nhóm này có thể tạo ra một lực chống đối có hệ thống và mang tính toàn cầu như Liên Xô đã làm trước đây. Do đó, người Mỹ đã chậm nhận ra rằng những quốc gia này đã làm lung lay trật tự địa chính trị Á Âu trong những cung cách gây khó khăn cho Mỹ và châu Âu trong nỗ lực xây dựng một thế giới hậu-lịch sử, đôi bên đều có lợi [a post-historical, win-win world].

Tuy vậy, người ta vẫn có thể chứng kiến các hậu quả của hành vi xét lại này ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Đông Á, mặc dù lập trường ngày một quyết đoán của Trung Quốc chưa đạt nhiều tiến độ địa chính trị cụ thể, nhưng trên cơ bản nó đã thay đổi động lực tương tác chính trị trong một khu vực hiện có những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chính trị châu Á ngày nay xoay quanh sự kèn cựa giữa các dân tộc, các đòi hỏi chủ quyền xung đột nhau, các nỗ lực tăng cường hải quân, và các vấn đề lịch sử tương tự. Cuộc phục sinh của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản, một đáp trả trực tiếp đối với nghị trình của Trung Quốc, đã làm phát sinh một tiến trình theo đó chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy ở nước này sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc ở nước kia. Trung Quốc và Nhật Bản đang tăng cường giọng điệu cứng rắn, gia tăng ngân sách quân sự của mỗi bên, khởi động các cuộc khủng hoảng song phương với tần suất cao hơn, và ngày càng tập trung vào cuộc tranh giành có bên thắng bên thua [zero-sum competition].

Mặc dù Liên Âu vẫn còn ở trong những giờ phút hậu-lịch sử [trong quan niệm cho rằng lịch sử đấu tranh ý thức hệ đã hoàn toàn chấm dứt], nhưng những cộng hòa nằm ngoài khối Liên Âu và thuộc Liên Xô cũ lại đang sống trong một thời đại rất khác. Trong vài năm qua, những hi vọng về việc chuyển đổi Liên Xô cũ thành một khu vực hậu-lịch sử đã phai tàn. Việc Nga chiếm Ukraine chỉ là bước mới nhất trong một loạt diễn biến đã biến Đông Âu thành một khu vực xung đột địa chiến lược gay gắt, khiến cho việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ vững chắc và hữu hiệu trở nên khó thực hiện bên ngoài các quốc gia Baltic và Ba Lan.

Tại Trung Đông, tình hình thậm chí còn gay gắt hơn. Những ước mơ rằng thế giới Ả Rập đang tiến đến điểm chuyển đổi sang thể chế dân chủ – những ước mơ đã tạo hình dáng và phẩm chất của chính sách Hoa Kỳ dưới chính quyền Bush lẫn Obama – cũng đã phai tàn. Thay vì xây dựng một trật tự thông thoáng trong khu vực, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ đang phải đối phó với sự tan rã của hệ thống nhà nước đã được khai sinh từ hiệp ước Sykes-Picot năm 1916, một hiệp ước đã chia cắt các vùng trong Đế quốc Ottoma, trong khi việc điều hành quốc gia đang bị xói mòn tại Iraq, Lebanon, và Syria. Obama đã cố gắng hết sức để tách rời vấn đề địa chính trị trong việc Iran bành trướng quyền lực nhanh chóng khắp khu vực khỏi vấn đề nước này phải tuân theo Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí hạt nhân, nhưng những lo lắng của lãnh đạo Israel và Ả Rập Saudi về những tham vọng khu vực của Iran đang làm cho nỗ lực của Obama càng khó thực hiện. Một cản trở khác cho việc đạt được thỏa ước với Iran chính là Nga, một cường quốc đã sử dụng địa vị của mình trong Hội đồng Bảo an LHQ và việc hậu thuẫn cho Assad để đẩy lùi các mục tiêu của Mỹ tạiSyria.

Nga xem ảnh hưởng của mình tại Trung Đông như là một tài sản quan trọng trong cuộc cạnh tranh quyền lực với Mỹ. Điều này không có nghĩa là Moskva sẽ theo phản xạ chống lại các mục tiêu của Mỹ trong mọi trường hợp, nhưng có nghĩa là những kết quả mang lại lợi ích cho cả đôi bên [the win-win outcomes] mà lãnh đạo Mỹ sốt sắng tìm kiếm đôi khi sẽ bị hi sinh vì những lợi ích địa chính trị của Nga. Trong việc quyết định cần phải mạnh tay như thế nào với Nga về vấn đề Ukraine, Nhà Trắng không thể tránh né việc cân nhắc hậu quả đối với lập trường của Nga về cuộc chiến Syria hay về chương trình hạt nhân củaIran. Nga không thể biến mình thành một nước giàu có hơn hay rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay, nhưng nó đã làm cho mình trở thành một yếu tố quan trọng trong tư duy chiến lược của Mỹ, và Nga có thể sử dụng lợi thế này để đòi hỏi các nhượng bộ quan trọng đối với mình.

Nếu những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại này đã thắng thế, thì sức mạnh của những cường quốc muốn duy trì nguyên trạng đã bị xói mòn. Tình trạng suy yếu này diễn ra rõ nét nhất tại châu Âu, nơi mà cái thảm họa không suy giảm của đồng tiền chung đã chia rẽ công luận và buộc Liên Âu phải xoay hướng tập trung vào bên trong. Liên Âu có lẽ đã tránh được hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra của cuộc khủng hoảng đồng euro, nhưng cả ý chí lẫn khả năng để hành động có hiệu quả ở ngoài biên giới của mình đã bị tổn thương đáng kể.

Hoa Kỳ đã không kinh qua một thiệt hại to lớn nào tương tự như nỗi đau kinh tế mà phần lớn châu Âu đã trải qua, nhưng vì Mỹ cũng đang đối diện nhiều vấn đề, gồm cái dư vị trong chính sách đối ngoại do những cuộc chiến của Bush để lại, một nhà nước giám sát ngày càng xâm phạm đời tư công dân, một cuộc hồi phục kinh tế chậm chạp, và một luật cải tổ y tế bị nhiều người chống đối, tâm lý công chúng đã trở nên chán chường. Cả bên cánh Tả lẫn bên cánh Hữu, người Mỹ đang đặt nghi vấn về những lợi ích của trật tự thế giới hiện nay và về khả năng của những kiến trúc sư đã tạo ra nó. Ngoài ra, dân chúng cũng chia sẻ sự đồng thuận của giới cầm quyền rằng trong một thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ nhất định có thể đóng góp ít hơn vào hệ thống quốc tế và rút ra nhiều lợi lộc hơn. Khi điều đó không xảy ra, người dân bèn đổ lỗi cho lãnh đạo. Dẫu sao, người dân Mỹ không còn mấy thiết tha đối với các sáng kiến đồ sộ mới mẻ ở trong cũng như ngoài nước. Một quần chúng yếm thế đang trở nên thờ ơ với một Washington phân cực, bằng một thái độ vừa chán chường vừa khinh bỉ.

Obama lên cầm quyền với kế hoạch cắt giảm chi tiêu quân sự và thu nhỏ tầm quan trọng của chính sách đối ngoại trong chính trị Mỹ trong lúc tăng cường trật tự thế giới tự do. Nhưng hiện nay, hơn nửa đoạn đường trong chức vụ tổng thống, Obama thấy mình bị sa lầy vào chính những hình thức tranh đua địa chính trị mà trước đây ông từng hi vọng có thể vượt qua. Chính sách phục thù của Trung Quốc, Iran, và Nga chưa lật đổ được sự dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh tại khu vực Á Âu, và có lẽ không bao giờ làm được điều này, nhưng nó đã biến một nguyên trạng không tranh chấp [uncontested status quo] thành một nguyên trạng bị tranh chấp. Các tổng thống Mỹ không còn tự do hành động khi họ tìm cách củng cố hệ thống tự do; càng ngày họ càng bận tâm với việc chống đỡ những nền tảng địa chính trị của hệ thống này.

HOÀNG HÔN CỦA LỊCH SỬ

Chính vì cách đây 22 năm Fukuyamađã cho xuất bản cuốn The End of History and the Last Man (Cáo chung của Lịch sử và Con người Cuối cùng) mà người ta có xu thế coi sự tái xuất của địa chính trị là một cách bác bỏ dứt khoát luận thuyết của ông. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Như Fukuyama đã nhắc nhở người đọc, tận cùng của lịch sử là ý kiến của Hegel, và mặc dù loại hình nhà nước cách mạng đã vĩnh viễn chiến thắng loại hình chế độ cũ, Hegel lý luận, cạnh tranh và xung đột sẽ còn tiếp tục diễn ra. Ông tiên đoán rằng những xáo trộn chính trị sẽ xảy ra trong các lãnh thổ, ngay cả khi các vùng trung tâm của văn minh châu Âu đi vào một thời kỳ hậu-lịch sử (post-historical time). Giả dụ các lãnh thổ trong quan niệm của Hegel gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga, chắc chắn người ta sẽ không ngạc nhiên rằng hơn hai thế kỷ sau, những xáo trộn kia vẫn chưa chấm dứt. Chúng ta đang sống trong buổi hoàng hôn của lịch sử chứ không sống vào thời điểm lịch sử đã thật sự cáo chung.

Ngày nay, một quan niệm về tiến trình lịch sử theo kiểu Hegel sẽ cho rằng kể từ đầu thế kỷ 19 đến nay tiến trình này vẫn không mấy thay đổi. Để được hùng mạnh, các quốc gia phải phát triển những tư duy và những định chế có thể cho phép họ sử dụng các lực vô cùng to lớn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và thông tin. Ngoài ra, không còn có một con đường nào khác; xã hội nào không đủ sức hoặc không muốn đi theo con đường này cuối cùng sẽ trở thành kẻ tuân theo mệnh lệnh của lịch sử chứ không thể làm nên lịch sử.

Nhưng con đường dẫn đến thời hậu hiện đại [postmodernity] vẫn còn nhiều gập ghềnh. Để tăng cường quyền lực của mình, Trung Quốc, chẳng hạn, rõ ràng sẽ phải đi qua một tiến trình phát triển kinh tế và chính trị, đòi hỏi nước này phải khắc phục những vấn đề mà các xã hội phương Tây đã và đang đối phó. Nhưng, vẫn không có gì đảm bảo rằng con đường mà Trung Quốc sử dụng để đi tới tình trạng hiện đại tự do và ổn định sẽ ít hỗn độn hơn con đường mà Đức đã đi qua, chẳng hạn. Buổi hoàng hôn của lịch sử không phải là một thời gian yên ắng.

Phần hai cuốn sách của Fukuyama ít được chú ý vì không làm hài lòng người phương Tây. Khi Fukuyama tìm hiểu một xã hội hậu-lịch sử sẽ giống như thế nào, ông đã phát hiện một hình ảnh đáng lo ngại. Trong một thế giới mà những vấn đề lớn đã được giải quyết xong và lãnh vực địa chính trị đã nhường bước cho lãnh vực kinh tế, nhân loại trông sẽ giống như “con người cuối cùng” theo chủ nghĩa hư vô mà triết gia Friedrich Nietzche đã mô tả: đó là người tiêu thụ chỉ biết chăm chút chính mình mà không còn khát vọng nào lớn hơn ngoài chuyến đi mua sắm tiếp theo.

Nói cách khác, những người này sẽ gần giống giới quan liêu châu Âu và giới vận động hành lang tại Washington ngày nay. Họ có thừa khả năng để quản lý công việc của mình trong xã hội hậu-lịch sử, nhưng hiểu được các động cơ và chống lại được những chiến lược của các lãnh đạo chính trị cường quốc kiểu cũ là việc khó đối với họ. Khác với những đối thủ của họ vừa kém năng suất vừa thiếu ổn định, những con người hậu lịch sử không biết hi sinh, chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, dễ dàng bị lung lạc, và thiếu can đảm.

Thực tế của đời sống cá nhân và sinh họat chính trị tại những xã hội hậu lịch sử là rất khác với thực tế tại những nước như Trung Quốc, Iran, và Nga, nơi mà mặt trời lịch sử vẫn đang chiếu sáng. Những xã hội khác biệt này không những đề cao các nhân cách và giá trị khác biệt, mà các định chế của chúng cũng hoạt động kiểu khác và dân chúng ở đó chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng kiểu khác.

Các xã hội gồm toàn những con người cuối cùng của Nietzche có đặc tính là hiểu sai và đánh giá thấp những đối thủ mà họ cho là bán khai trong những xã hội mà họ cho là lạc hậu – một điểm mù có thể, chí ít tạm thời, xoá bỏ những lợi thế khác của nước họ. Trào lưu lịch sử có thể đang chảy không ngừng về hướng thể chế dân chủ tư bản tự do, và mặt trời lịch sử có thể đang thật sự khuất sau những rặng đồi. Nhưng thậm chí khi bóng đêm len xuống và vì sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời thì những nhân vật như Putin vẫn còn sải bước trên sân khấu thế giới. Họ sẽ không nhẹ nhàng đi vào cái đêm an lành kia, mà bằng tất cả cuồng nộ, họ sẽ chống lại sự lụi tắt của ánh sáng.

__________

WALTER RUSSELL MEAD là Giáo sư về Các Vấn đề Đối ngoại và Khoa học Nhân văn tại Đại học Bard và là Cộng tác viên của The American Interest.

Nguồn: Walter Russell Mead, “The Return of Geopolitics“, Foreign Affairs, May/June 2014

Bản tiếng Việt © 2014 Trần Ngọc Cư & pro&contra

Share SHARE